Ước mơ lớn lên từ khói bếp chiều của mẹ
Bài dự thi nhân ngày Gia đình Việt Nam 28/6
Có những giấc mơ không bắt đầu từ điều gì to tát, mà nảy mầm từ sự thiếu thốn của dải đất miền Trung nắng cháy. Giấc mơ ấy lớn lên cùng tiếng chân đợi mẹ đi chợ về, theo nhịp kẻng báo giờ của đời lính, và cả những bữa cơm vội vã trên công trường chưa ráo mồ hôi. Để rồi sau tất cả, thứ đọng lại sâu sắc nhất trong lòng tôi vẫn là mâm cơm gia đình thời ấu thơ, dù nghèo khó nhưng lại là điểm tựa kiên cường nhất cho mọi hành trình sau này.
Ba đi bộ đội, xa nhà biền biệt. Một mình mẹ tảo tần nuôi bốn anh em tôi qua những ngày thiếu thốn với nghề “buôn thúng, bán mẹt”. Tuổi thơ tôi gắn với làn khói bếp chiều, với những bữa cơm vắng ba và cả cái đói cồn cào vẫn còn dai dẳng dưới ánh đèn dầu leo lét mỗi đêm đông. Hạnh phúc khi ấy giản đơn lắm, mong chỉ là đôi quang gánh của mẹ nặng thêm một chút, với vài con cá vụn, mấy củ khoai, hay mấy bó rau đã xuống màu cuối buổi chợ.
Mẹ đã dạy tôi bài học đầu đời về sự sẻ chia không phải bằng đòn roi, mà bằng đôi mắt buồn thăm thẳm khi thấy con ăn vụng, hoặc dành nhau miếng miếng ăn. “Phải biết chờ nhau cùng ăn,biết kính trên, nhường dưới; biết ăn xem nồi, ngồi xem hướng,..”, lời mẹ nhẹ tênh mà nhắc nhớ tôi suốt một đời người.
Tuổi thơ tôi còn là những buổi trốn học, lội bùn ra đồng bắt hến, bắt cua, lặt nắm rau mang về nấu canh. Cái vị ngọt thanh lẫn mùi bùn đất, đồng ruộng ấy, sao mà ngon đến lạ kỳ.
Sau nhà, cây khế già vẫn đứng đó, oằn mình qua bao mùa sai trĩu quả, ngày ngày cho lũ trẻ chúng tôi leo trèo. Trái khế chua đậm chất khi thì được mẹ khéo léo cho vào nồi canh, “tréc” cá đồng, khi lại trở thành món ăn trừ bữa, chấm muối trắng để vơi đi cơn đói. Còn với chúng tôi, cây khế không chỉ là một cái cây… mà là cả một miền tuổi thơ, nơi lũ trẻ gửi gắm những ước mơ nhỏ bé vào từng quả chín vàng, để theo bước chân mẹ ra chợ.
Khi trong hũ không còn nổi một hạt gạo, mẹ ra vườn đào gốc chuối, bẻ bẹ, thái mỏng rồi làm thành món nộm ăn đỡ lòng. Những món ăn sinh ra từ thiếu thốn bủa vây, nhưng qua bàn tay mẹ, lúc nào cũng có vị ngọt của sự chắt chiu và lòng bao dung vô bờ. Có những chiều hè oi nồng, chỉ cần tô nước giếng trong vắt vắt thêm quả chanh, hạt muối hòa cùng bát nước mắm pha loãng cũng đủ trở thành bữa chính thịnh soạn thêm “đọi nác chè xanh” sau bữa ăn sao mà đậm đà tình quê
Nhớ nhất là những ngày giáp hạt, nồi cháo loãng phải độn thêm đủ thứ khoai lang, từ những củ khoai gầy guộc cho đến cả những đoạn dây khoai chưa đến ngày thu hoạch mẹ vừa hái vội ngoài vườn. Mẹ cứ khuấy đều tay, chăm chút sao cho bát cháo trông có vẻ “đặc” hơn, để anh em tôi ăn vào thấy ấm bụng mà đi qua những ngày Đông dài gian khó.
Mỗi khi hoàng hôn buông, nhìn khói bếp bay lên từ khóm mái tranh nghèo, tôi lại thấy một sự chở che kỳ lạ. Cái ấm của tình người, của sự chắt chiu từ bàn tay mẹ dường như đã lấn át cả cái thiếu thốn bủa vây. Để rồi sau này, dù ngồi giữa những bữa tiệc xa hoa phố thị, tôi vẫn thấy lòng mình thắt lại, thèm được trở về để nếm lại cái vị nồi cháo loãng đêm đông năm nào, cùng anh em sum vầy, nơi có ánh mắt mẹ hiền và một miền tuổi thơ đẹp đến nao lòng.
Từ những ngày đói khổ ấy, tôi bắt đầu dệt nên một ước mơ: Một ngày nào đó được nếm trải phong vị của cả ba miền Bắc – Trung – Nam. Không chỉ đơn thuần là ăn cho no, mà là để thấu hiểu cách mỗi vùng đất gửi gắm linh hồn và tình yêu vào từng món đặc sản, để hiểu cái “tình” ẩn sau mỗi hương vị.
Giấc mơ tưởng chừng xa vời ấy bắt đầu hé nở vào tháng 6/2005, khi tôi mới chập chững bước chân vào cơ quan nhà nước. Nhân kỷ niệm 5 năm Ngày Gia đình Việt Nam, khối thi đua tổ chức cuộc thi nấu ăn với chủ đề: “Bữa cơm gia đình ấm áp yêu thương”. Tôi vốn không phải người khéo bếp núc. Nhiều anh chị đồng nghiệp, những người quen tay bếp núc gia đình nhìn tôi với ánh mắt ái ngại. Nhưng tôi vẫn “liều mình” đăng ký. Sở hữu “kỹ năng” còn vụng về mẹ dạy thời thơ ấu, tôi không nghĩ mình sẽ làm được điều gì lớn lao. Tôi tham gia không phải vì tự tin, mà vì muốn tìm lại hương vị quê nhà của mẹ… và bước gần hơn đến giấc mơ của chính mình. Tôi tự mày mò học hỏi, gom góp từng chút nguyên liệu để tự tay chuẩn bị. Và rồi, tôi chọn cho mình một hành trình riêng mang tên: “Món ăn ba miền”. Đó không chỉ là một tiêu đề, mà là cách tôi tìm lại những hương vị đã nuôi lớn mình suốt thuở ấu thơ. Với tâm thế của một người đi tìm lại cội nguồn qua gian bếp, tôi bắt đầu từ những gì giản dị nhất. Miền Bắc, tôi chọn món giò heo giả cầy – vị riềng, mẻ, mắm tôm nồng đượm, sâu lắng, như nét tinh tế, thâm trầm của người Bắc: không ồn ào nhưng càng thưởng càng thấm. Miền Trung, tôi nấu canh hến khế chua- vị thanh mà mặn, thấm đượm nắng gió và vị biển, như con người quê tôi dẫu dãi dầu vẫn thương nhau trọn vẹn. Miền Nam, tôi làm dồi trường xào chua ngọt – vị rõ ràng, hài hòa, phóng khoáng, như tấm lòng người phương Nam chân chất, đã thương là thương hết lòng…và cũng là nơi tôi từng nhận được những bơ gạo còn thơm hương đồng nghĩa tình trong những năm tháng khó khăn được cứu trợ.
Trên mâm cơm ấy, tôi không trình diễn kỹ thuật bếp núc mà đang trải lòng về chính cuộc đời mình. Tôi kể cho họ nghe về những nồi cháo loãng đêm đông, về ánh đèn dầu leo lét và đôi mắt buồn thẳm thẳm của mẹ năm nào. Chính từ những mâm cơm chắt chiu, thiếu thốn của mẹ đã nuôi lớn trong tôi một khát vọng sống mãnh liệt. Cơn đói thuở ấu thơ không làm tôi gục ngã, mà trở thành thứ nhựa sống âm ỉ, thôi thúc tôi phải vươn xa, phải đi để tìm thấy những phong vị tươi đẹp hơn cho cuộc đời. Mâm cơm ba miền hôm nay là lời hồi đáp cho những ngày khó khăn đã cũ, là minh chứng rằng từ gian khó, con người vẫn có thể tạo nên những giấc mơ rực rỡ nhất, dù đó là vị ngon trong một bữa ăn, hay là sự đổi thay của cả một số phận. Giây phút giải Nhất được xướng tên, tôi đứng lặng giữa hội trường. Hình ảnh đứa trẻ gầy gò ngồi bên nồi cháo loãng năm nào chợt hiện về, nhòa đi trong thực tại. Hóa ra, giấc mơ ấy chưa bao giờ xa xôi; nó nằm ngay trong sự thấu hiểu giữa những đồng nghiệp – những người đã cùng tôi đứng dưới một mái chèo công việc, coi nhau như người thân.
Hôm nay, nhân kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam, tôi có dịp nhìn lại những gì đã trải qua. Nhìn lại những ngày đói nghèo để thấy tình thương quý giá biết bao, nhìn lại những người bạn đường đã cùng tôi chia sớt áp lực để thắt chặt sợi dây đoàn kết để cùng nhau đi qua những khúc quanh của nghề.
Giờ đây mẹ đã già, ba đã đi xa để lại một khoảng trống không gì có thể thay thế. Mẹ tôi vẫn giữ thói quen chờ đủ con, cháu mới ăn, vẫn mỉm cười nói “mẹ no rồi…” để nhường phần ngon cho con, cháu hệt như cái cách ba từng can trường nơi chiến trường khi còn là anh ‘Bộ đội Cụ Hồ’.
Tôi hiểu ra rằng, quê hương không ở đâu xa, nó nằm trong vị mặn mòi của từng món ăn mẹ nấu. Gia đình không chỉ là nơi ta sinh ra, mà là cái nôi nuôi lớn những khát vọng từ khói bếp mẹ nấu bữa cơm chiều và những khát vọng bắt đầu từ một nồi cháo thiếu gạo năm xưa./.
Văn Phú